Xây dựng mô hình phát triển giống bí đỏ Mật Sao 2 phục vụ sản xuất rau hàng hóa tại Thái Nguyên
Nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất nông nghiệp tại Thái Nguyên thông qua việc tiếp nhận và chuyển giao tiến bộ kỹ thuật, Trung tâm Thực nghiệm Cây lương thực và Cây thực phẩm (Viện Cây lương thực và Cây thực phẩm) đã triển khai dự án khoa học và công nghệ cấp tỉnh “Xây dựng mô hình phát triển giống bí đỏ Mật Sao 2 phục vụ sản xuất rau hàng hóa tại Thái Nguyên”. Dự án bắt đầu từ năm 2025, đánh dấu bước khởi đầu trong việc xây dựng mô hình sản xuất liên kết chuỗi giá trị đối với giống bí đỏ Mật Sao 2. Đây là hướng đi quan trọng nhằm hình thành vùng sản xuất rau hàng hóa có hiệu quả kinh tế cao, giảm thiểu ô nhiễm môi trường, phù hợp với định hướng phát triển kinh tế – xã hội của tỉnh.
Hội thảo giới thiệu mô hình sản xuất giống bí đỏ Mật Sao 2 an toàn theo VietGAP tại Thái Nguyên.
Dự án tập trung xây dựng mô hình liên kết chuỗi giá trị sản xuất giống bí đỏ Mật Sao 2 an toàn theo tiêu chuẩn VietGAP với quy mô 60 ha tại 3 địa điểm: Đại Từ (20 ha), Võ Nhai (20 ha) và Phú Bình (20 ha). Tại các mô hình, đơn vị chủ trì dự án cấp phát vật tư (giống, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật) cho các hộ tham gia, đồng thời hướng dẫn và trực tiếp chỉ đạo kỹ thuật trồng, chăm sóc, theo dõi các chỉ tiêu kinh tế, kỹ thuật. Người dân được tập huấn toàn diện quy trình sản xuất giống bí đỏ Mật Sao 2: từ kỹ thuật làm cây giống, lên luống, trồng, chăm sóc (tưới nước, bấm tỉa cành, phòng trừ sâu bệnh) cho đến khâu thu hoạch.
Mô hình sản xuất và tiêu thụ sản phẩm được triển khai theo phương thức liên kết “4 nhà”: Nhà nước – Nhà khoa học – Nhà doanh nghiệp – Nhà nông. Kết quả cho thấy năng suất giống bí đỏ Mật Sao 2 đạt khoảng 33 tấn quả/ha và 6 tấn rau ngọn/ha. Với chất lượng vượt trội, giá bán dao động từ 6.000 – 7.000 đồng/kg, thu nhập trung bình đạt 204 triệu đồng/ha/vụ; sau khi trừ chi phí, lợi nhuận thuần trên 150 triệu đồng/ha. Mô hình trình diễn dự kiến cung cấp cho thị trường hơn 3.800 tấn quả bí đỏ chất lượng cao, đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm, hướng tới chế biến xuất khẩu và phục vụ nhu cầu tiêu dùng tại Thái Nguyên cùng các tỉnh lân cận. Với quy mô 60 ha, dự án đã tạo ra trên 23.000 công lao động nông nghiệp, mang lại thu nhập ngày công khá cao, góp phần giải quyết việc làm, nâng cao đời sống người dân và giữ vững ổn định xã hội. Đồng thời, dự án thúc đẩy chuyển đổi tập quán sản xuất từ tự cung tự cấp sang sản xuất hàng hóa nông sản có giá trị kinh tế cao.
Bên cạnh đó, hơn 300 nông dân và cán bộ cơ sở đã được đào tạo, chuyển giao kỹ thuật trồng và chăm sóc giống bí đỏ Mật Sao 2 theo tiêu chuẩn VietGAP, qua đó nâng cao nhận thức, trình độ chuyên môn và kỹ năng canh tác. Giống bí đỏ mới có khả năng chống chịu sâu bệnh tốt, giúp giảm lượng thuốc bảo vệ thực vật. Việc áp dụng biện pháp kỹ thuật canh tác tiên tiến, sử dụng phân hữu cơ thay thế phân hóa học đã góp phần giảm tác động tiêu cực đến môi trường, tạo ra sản phẩm an toàn theo hướng hữu cơ. Kết quả nghiên cứu của dự án góp phần xây dựng nền nông nghiệp bền vững, thân thiện với môi trường, phù hợp với chương trình xây dựng nông thôn mới.
Quy trình trồng và chăm sóc giống bí đỏ Mật Sao 2 an toàn theo VietGAP dự kiến sẽ được chuyển giao cho các Trung tâm dịch vụ Nông nghiệp tại Phú Bình, Đại Từ và Võ Nhai. Dự án đã đánh giá toàn diện hiện trạng sản xuất rau và cây bí đỏ tại Thái Nguyên, bao gồm vùng trồng, thời vụ, giống chủ lực, diện tích, năng suất, hiệu quả kinh tế và khả năng mở rộng sản xuất. Trên cơ sở đó, quy trình sản xuất đã được hoàn thiện, dễ áp dụng cho nông dân.
Thông qua dự án, nông dân Thái Nguyên có cơ hội tiếp cận tiến bộ khoa học kỹ thuật mới do Viện Cây lương thực và Cây thực phẩm (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn) hướng dẫn, đồng thời tạo điều kiện để cán bộ khoa học của Viện tiếp xúc trực tiếp với thực tiễn sản xuất, xác định nhu cầu thực tế, làm cơ sở cho định hướng nghiên cứu tiếp theo. Đặc biệt, dự án đã chuyển giao thành công giống bí đỏ Mật Sao 2 có năng suất cao, chất lượng tốt, được thị trường Thái Nguyên đón nhận, mở ra triển vọng phát triển sản xuất hàng hóa nông sản giá trị cao, góp phần nâng cao thu nhập và đời sống người dân.
Kết quả dự án không chỉ thúc đẩy sản xuất theo hướng hàng hóa mà còn mở rộng cơ hội chế biến, xuất khẩu và tiêu thụ nông sản, tạo động lực quan trọng cho phát triển kinh tế – xã hội địa phương./.