image banner
Xây dựng mô hình chăn nuôi bò lai sinh sản khép kín, bảo đảm an toàn sinh học
Lượt xem: 0
Nhằm ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào chăn nuôi bò theo hướng khép kín, bảo đảm an toàn sinh học và nâng cao hiệu quả sản xuất, nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp tỉnh “Ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật xây dựng mô hình trang trại chăn nuôi bò lai sinh sản khép kín đảm bảo an toàn sinh học”, do Viện Chăn nuôi và Thú y Việt Nam chủ trì, đã xây dựng 02 mô hình chăn nuôi bò lai sinh sản, ứng dụng kỹ thuật thụ tinh nhân tạo để tạo đàn bê lai Brahman và BBB, chủ động tạo nguồn thức ăn đủ, đầy quanh năm, đồng thời xử lý, tái sử dụng chất thải chăn nuôi bò. Kết quả thực hiện cho thấy mô hình góp phần nâng cao hiệu quả chăn nuôi, tận dụng nguồn phụ phẩm, giảm tác động đến môi trường và tạo cơ sở phát triển chăn nuôi theo hướng an toàn, khép kín và bền vững.

     Trong thực tế, chăn nuôi bò trên địa bàn trước đây chủ yếu được thực hiện ở quy mô nông hộ, sử dụng giống bò địa phương, phương thức chăn thả kết hợp bổ sung cỏ và phụ phẩm của ngành trồng trọt. Trong khi đó, việc lai tạo và chăn nuôi các giống bò lai hướng thịt, an toàn sinh học, chú trọng bảo vệ môi trường, tạo ra sản phẩm chăn nuôi an toàn được xác định là hướng phát triển phù hợp. Từ yêu cầu đó, nhiệm vụ được triển khai nhằm nghiên cứu, thử nghiệm và đánh giá khả năng ứng dụng các giải pháp kỹ thuật trong chăn nuôi bò lai sinh sản trước khi tiếp tục nhân rộng.

Anh-tin-bai

Mô hình chăn nuôi bò lai sinh sản tại xã Nam Cường

Trong quá trình thực hiện, 02 mô hình được xây dựng tại xã Phúc Lộc và xã Nam Cường, tỉnh Thái Nguyên, với quy mô 50 bò cái lai sinh sản, gồm 25 bò lai Brahman và 25 bò Laisind. Hệ thống chuồng trại được cải tạo với diện tích từ 250-300 m², áp dụng đệm lót sinh học; khu vực lưu trữ, xử lý chất thải và nuôi giun được cải tạo, nâng cấp với diện tích 500 m². Đệm lót sinh học sau sử dụng được thu gom, xử lý và tái sử dụng làm phân bón cho cỏ và các loại cây trồng khác, qua đó từng bước hình thành quy trình liên kết giữa chăn nuôi và trồng trọt.

Ứng dụng thụ tinh nhân tạo, tạo đàn bê lai là một trong những nội dung trọng tâm của nhiệm vụ. Tinh bò Brahman và BBB được sử dụng để phối giống với đàn bò cái nền nhằm tạo bê lai có khả năng sinh trưởng, phát triển tốt. Kết quả theo dõi 118 lượt bò được phối giống cho thấy có 80 lượt bò thụ thai, tỷ lệ thụ thai đạt 67,79%; trong đó, tỷ lệ thụ thai tại mô hình 1 đạt 69,86% và mô hình 2 đạt 64,44%. Có 38 bò đã sinh bê lai và 41 bò còn chửa tại thời điểm tổng hợp kết quả. Khoảng cách lứa đẻ trung bình của đàn bò trong mô hình là 15,50 tháng, nằm trong khoảng yêu cầu từ 14-17 tháng.

Kết quả theo dõi cho thấy đàn bê lai sinh trưởng và phát triển tốt, thích nghi với điều kiện chăm sóc tại mô hình; trong thời gian thực hiện không ghi nhận trường hợp bê lai bị chết do bệnh. Đối với bê lai Brahman, khối lượng được theo dõi từ giai đoạn sơ sinh đến 18 tháng tuổi; các chỉ tiêu sinh trưởng đạt yêu cầu đề ra. Đối với bê lai BBB, khối lượng trung bình đạt 32,45 kg/con khi sơ sinh, 170,16 kg/con khi cai sữa, 340,63 kg/con ở 15 tháng tuổi và 391,76 kg/con ở 18 tháng tuổi. Các kết quả này cho thấy việc sử dụng ưu thế lai của các giống bò cao sản Brahman và BBB có khả năng góp phần nâng cao tầm vóc và tỷ lệ thịt xẻ của đàn bò.

Chủ động nguồn thức ăn cũng được xác định là nội dung quan trọng nhằm bảo đảm nguồn thức ăn ổn định cho đàn bò. Nhiệm vụ đã triển khai trồng cỏ VA06, cỏ Ghine và ngô sinh khối. Diện tích cỏ VA06 đạt 1,56 ha, năng suất sinh khối từ 302,43-350,90 tấn/ha/năm; cỏ Ghine đạt 0,8 ha, năng suất 135,10-147,73 tấn/ha/năm; ngô sinh khối có diện tích gieo trồng 3,27 ha, năng suất đạt 45,6-49,95 tấn/ha. Tổng khối lượng thức ăn thô xanh và phụ phẩm nông nghiệp được chế biến đạt 500 tấn. Các phương pháp chế biến, bảo quản như ủ chua cỏ, cây ngô sinh khối và cây ngô sau thu bắp; kiềm hóa rơm bằng urê được áp dụng, góp phần chủ động nguồn thức ăn cho đàn bò quanh năm.

Kết quả xử lý chất thải cho thấy mô hình đã tận dụng hiệu quả nguồn tài nguyên sinh khối, với khoảng 700 tấn phân và thức ăn thừa được xử lý, tái sử dụng; 2.000 m³ nước thải được thu gom, xử lý và sử dụng tưới cây. Nhiệm vụ cũng sản xuất 2,0 tấn sinh khối giun có hàm lượng protein 61,32% và 10 tấn phân giun, góp phần giảm chất thải, hạn chế tác động đến môi trường và tạo thêm sản phẩm phục vụ sản xuất. Việc áp dụng đồng bộ các giải pháp kỹ thuật còn nâng cao hiệu quả kinh tế, với lợi nhuận bò lai Brahman đạt 16,23-17,53 triệu đồng/con và bò lai BBB đạt 22,03-22,68 triệu đồng/con, cao hơn phương thức chăn nuôi truyền thống, lần lượt khoảng 11,20 triệu đồng/con và 15,53-16,47 triệu đồng/con.

Song song với xây dựng mô hình, nhiệm vụ chú trọng đào tạo, tập huấn và chuyển giao kỹ thuật cho người dân. Đã tổ chức 01 lớp đào tạo cho 18 kỹ thuật viên về kỹ thuật thụ tinh nhân tạo và 04 lớp tập huấn cho 160 người dân chăn nuôi bò, tập trung vào quản lý đàn, phát hiện động dục, chăm sóc, nuôi dưỡng và chế biến thức ăn cho bò. Nhiệm vụ cũng biên soạn, trình cơ quan có thẩm quyền ban hành tài liệu hướng dẫn kỹ thuật chăn nuôi bò lai sinh sản khép kín, bảo đảm an toàn sinh học trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên; tổ chức 03 hội thảo và hoàn thành 02 phóng sự tuyên truyền về kết quả thực hiện. Qua đó, góp phần nâng cao kiến thức, kỹ năng cho người chăn nuôi, hình thành lực lượng kỹ thuật viên tại chỗ và tạo cơ sở tiếp tục duy trì, ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật trong sản xuất.

Kết quả thực hiện cho thấy việc ứng dụng đồng bộ các tiến bộ khoa học kỹ thuật đã tạo được nguồn thức ăn thô xanh ổn định, chất lượng cho đàn bò; đàn bê lai có khả năng thích nghi tốt với điều kiện chăm sóc tại địa phương, đồng thời góp phần nâng cao tầm vóc và tỷ lệ thịt xẻ thông qua việc phát huy ưu thế lai của các giống bò cao sản. Đối với các hộ tham gia mô hình, kiến thức và kỹ năng chăn nuôi được nâng lên, thu nhập từ chăn nuôi bò được cải thiện; việc tái sử dụng chất thải và bảo đảm an toàn sinh học góp phần hướng tới phát triển chăn nuôi bền vững.

Từ những kết quả đạt được, mô hình là cơ sở thực tiễn để tiếp tục hoàn thiện và nghiên cứu nhân rộng phương thức chăn nuôi bò lai sinh sản theo hướng khép kín, bảo đảm an toàn sinh học, chủ động nguồn thức ăn, tận dụng phụ phẩm nông nghiệp, xử lý và tái sử dụng chất thải, qua đó nâng cao hiệu quả sản xuất và hướng tới phát triển chăn nuôi bền vững tại địa phương./.

NQ
image advertisement
  
image advertisement
image advertisement
image advertisement
image advertisement
image advertisement
Thống kê truy cập
  • Đang online: 1
  • Hôm nay: 1
  • Trong tuần: 1
  • Tất cả: 1
TRANG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ SỞ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
Địa chỉ: Số 5, đường Nha Trang, phường Phan Đình Phùng, tỉnh Thái Nguyên
 Chịu trách nhiệm quản lý nội dung: Đ/c: Nguyễn Thị Thủy - Phó Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ Số điện thoại: 0208.3501.260 Email: sokhcn@thainguyen.gov.vn
Cơ quan chủ quản: Sở Khoa Học Và Công Nghệ
Ghi rõ nguồn tin "Sở Khoa Học Và Công Nghệ" khi phát hành lại thông tin từ website này