image banner
Ứng dụng phân bón lá vi lượng nano đồng trong sản xuất chè, rau, quả an toàn
Lượt xem: 0
Hướng tới nâng cao năng suất, chất lượng nông sản, giảm sử dụng thuốc bảo vệ thực vật hóa học và thúc đẩy sản xuất nông nghiệp an toàn, Viện Quy hoạch và Thiết kế Nông nghiệp đã thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp tỉnh “Nghiên cứu xây dựng mô hình sử dụng phân bón lá vi lượng nano đồng trong phòng trừ bệnh hại đối với sản xuất chè, rau, quả an toàn trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên”. Nhiệm vụ đã tập trung nghiên cứu, đánh giá thực trạng sử dụng thuốc bảo vệ thực vật trong sản xuất rau họ thập tự, cây na và chè; đánh giá ảnh hưởng của phân bón lá vi lượng nano đồng đến sinh trưởng, năng suất, chất lượng cây trồng, bệnh hại và một số tính chất đất; đồng thời xây dựng mô hình ứng dụng, hoàn thiện quy trình kỹ thuật và đề xuất giải pháp duy trì, nhân rộng kết quả.

Thái Nguyên có thế mạnh về sản xuất chè, đồng thời có điều kiện phát triển các sản phẩm rau, cây ăn quả, trong đó có cây na. Trong bối cảnh nhu cầu sử dụng nông sản an toàn, chất lượng cao ngày càng tăng, việc ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, giảm sử dụng thuốc bảo vệ thực vật hóa học, nâng cao hiệu quả sản xuất và bảo vệ môi trường là yêu cầu cần thiết. Phân bón lá vi lượng nano đồng đã được thử nghiệm trên nhiều loại cây trồng, bước đầu cho thấy khả năng phòng trừ một số loại nấm, khuẩn và virus gây bệnh, góp phần giảm sử dụng thuốc bảo vệ thực vật hóa học. Trên cơ sở đó, nhiệm vụ tập trung điều tra, đánh giá thực trạng sử dụng thuốc bảo vệ thực vật trong sản xuất rau họ thập tự, cây na và chè; nghiên cứu ảnh hưởng của phân bón lá vi lượng nano đồng đến sinh trưởng, năng suất, chất lượng cây trồng, bệnh hại và một số tính chất đất; xây dựng mô hình ứng dụng, hoàn thiện quy trình kỹ thuật và đề xuất giải pháp duy trì, nhân rộng. Qua điều tra cho thấy, người sản xuất đã quan tâm hơn đến việc sử dụng phân hữu cơ, thuốc bảo vệ thực vật sinh học; việc sử dụng các chế phẩm thuộc nhóm thuốc hóa học có xu hướng giảm.

Anh-tin-baiMô hình ứng dụng phân bón lá vi lượng nano đồng trong phòng trừ bệnh hại trên cây chè tại xã Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên.

Trong quá trình nghiên cứu, dự án đã tiến hành các thí nghiệm trên rau cải xanh, rau bắp cải, na và chè để lựa chọn công thức sử dụng phân bón lá vi lượng nano đồng phù hợp. Kết quả cho thấy phân bón có tác dụng phòng trừ một số bệnh hại chính, đồng thời góp phần cải thiện sinh trưởng, năng suất và một số chỉ tiêu chất lượng của cây trồng. Trên rau cải xanh, hiệu quả phòng trừ bệnh thối nhũn ở công thức đạt hiệu quả cao nhất là 76,90%; năng suất ở công thức được lựa chọn đạt 22,33 tấn/ha. Trên rau bắp cải, hiệu quả phòng trừ bệnh đốm vòng đạt cao nhất 80,82%, bệnh thối nhũn 76,37%. Đối với cây na, tỷ lệ bệnh thối cuống quả, vàng lá thối rễ và thán thư được hạn chế; các chỉ tiêu về tỷ lệ đậu quả, số quả/cây và khối lượng quả ở công thức sử dụng phân bón cao hơn đối chứng. Đối với chè, hiệu quả phòng trừ bệnh phồng lá chè đạt 69,42–72,49%; bệnh đốm nâu đạt 84,77%, bệnh chấm xám đạt 79,5% và bệnh thối búp đạt khoảng 78,09–79,24%.

Kết quả phân tích các mẫu nông sản cho thấy các chỉ tiêu kim loại nặng được kiểm tra đều nằm trong ngưỡng cho phép; một số mẫu rau, na và chè không phát hiện dư lượng thuốc bảo vệ thực vật được phân tích. Đối với đất trồng, việc sử dụng phân bón lá vi lượng nano đồng góp phần ổn định pH, cải thiện khả năng trao đổi cation và hàm lượng mùn. Đây là cơ sở để lựa chọn các công thức phù hợp và xây dựng mô hình sản xuất. Từ kết quả thí nghiệm, nhiệm vụ đã xây dựng 4 mô hình ứng dụng phân bón lá vi lượng nano đồng. Mô hình rau cải xanh được triển khai tại xã Tân Cương với quy mô 1 ha, năng suất đạt 23,1 tấn/ha, thu nhập thuần cao hơn ngoài mô hình 15,3%. Mô hình rau bắp cải quy mô 1 ha cho năng suất 27,2 tấn/ha, lợi nhuận cao hơn đối chứng 15,11%. Mô hình na được thực hiện tại xã La Hiên với quy mô 7 ha, tỷ lệ đậu quả đạt 42,2%, khối lượng quả đạt 222,3 gam/quả, thu nhập thuần cao hơn ngoài mô hình 15,26%. Mô hình chè được thực hiện tại xã Đồng Hỷ với quy mô 7 ha; năng suất, chất lượng chè và hiệu quả kinh tế đều cao hơn đối chứng, thu nhập thuần tăng khoảng 15,24%.

Tổng hợp kết quả cho thấy năng suất rau cải xanh tăng 11,4%, hiệu quả kinh tế tăng 15,2%; năng suất rau bắp cải tăng 10,41%, hiệu quả kinh tế tăng 15,11%; năng suất na tăng 11,2%, hiệu quả kinh tế tăng 15,26%; năng suất chè tăng 11,4%, hiệu quả kinh tế tăng 15,24% so với đối chứng. Đây là kết quả nổi bật của nhiệm vụ, cho thấy khả năng ứng dụng quy trình sử dụng phân bón lá vi lượng nano đồng trong sản xuất các nhóm cây trồng nghiên cứu.

Bên cạnh xây dựng mô hình, nhiệm vụ đã tổ chức tập huấn, chuyển giao kỹ thuật cho người sản xuất về công dụng và quy trình sử dụng phân bón lá vi lượng nano đồng đối với rau cải xanh, rau bắp cải, na và chè an toàn; đồng thời cung cấp kiến thức về công nghệ nano và liên kết tiêu thụ sản phẩm. Sau tập huấn, tỷ lệ đăng ký áp dụng quy trình đạt 68% đối với rau cải xanh, 65% đối với rau bắp cải, 70% đối với na và 75% đối với chè. Từ kết quả nghiên cứu và ý kiến chuyên gia, nhiệm vụ đã hoàn thiện 4 quy trình kỹ thuật sử dụng phân bón lá vi lượng nano đồng trong sản xuất rau cải xanh, rau bắp cải, na và chè an toàn, phù hợp với điều kiện sản xuất tại địa phương.

Dự án đồng thời nghiên cứu, đề xuất các giải pháp duy trì và nhân rộng mô hình, tập trung vào tuyên truyền nâng cao nhận thức của người sản xuất về sản xuất an toàn, chuyển giao tiến bộ kỹ thuật, tổ chức sản xuất và phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm rau, quả, chè an toàn. Các quy trình và kết quả mô hình có thể chuyển giao cho các cơ quan chuyên môn, các xã/phường có vùng sản xuất tập trung, doanh nghiệp, hợp tác xã, tổ hợp tác và hộ sản xuất để tham khảo, áp dụng. 

Kết quả của nhiệm vụ góp phần cung cấp cơ sở khoa học và thực tiễn cho phát triển sản xuất chè, rau, quả an toàn, nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả kinh tế, đồng thời góp phần giảm nguy cơ ô nhiễm môi trường. Các quy trình kỹ thuật và mô hình đã xây dựng có thể được chuyển giao cho cơ quan chuyên môn, doanh nghiệp, hợp tác xã, tổ hợp tác và hộ sản xuất để tham khảo, áp dụng. Thời gian tới, cần tiếp tục theo dõi, đánh giá hiệu quả qua các vụ sản xuất, lựa chọn những mô hình phù hợp để nhân rộng gắn với hướng dẫn kỹ thuật, tổ chức sản xuất và liên kết tiêu thụ sản phẩm. Qua đó, phát huy hiệu quả tiến bộ khoa học kỹ thuật, nâng cao giá trị nông sản và thúc đẩy phát triển sản xuất nông nghiệp an toàn, hiệu quả, bền vững trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên.


NTQ
image advertisement
  
image advertisement
image advertisement
image advertisement
image advertisement
image advertisement
Thống kê truy cập
  • Đang online: 1
  • Hôm nay: 1
  • Trong tuần: 1
  • Tất cả: 1
TRANG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ SỞ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
Địa chỉ: Số 5, đường Nha Trang, phường Phan Đình Phùng, tỉnh Thái Nguyên
 Chịu trách nhiệm quản lý nội dung: Đ/c: Nguyễn Thị Thủy - Phó Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ Số điện thoại: 0208.3501.260 Email: sokhcn@thainguyen.gov.vn
Cơ quan chủ quản: Sở Khoa Học Và Công Nghệ
Ghi rõ nguồn tin "Sở Khoa Học Và Công Nghệ" khi phát hành lại thông tin từ website này