Khoa học, công nghệ tạo động lực phát triển kinh tế tư nhân ở Thái Nguyên
Trong quá trình triển khai Nghị quyết số 68-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân, tỉnh Thái Nguyên đang từng bước gắn phát triển khu vực kinh tế tư nhân với khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Qua đó, hỗ trợ doanh nghiệp nâng cao năng lực công nghệ, năng suất, chất lượng sản phẩm, mở rộng thị trường và từng bước hình thành hệ sinh thái đổi mới sáng tạo trên địa bàn.

Đồng chí Hoàng Văn Thiên, Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ tham quan sản phẩm công nghệ, đổi mới sáng tạo của Công ty Cổ phần Đầu tư và Thương mại TNG.
Thực hiện Nghị quyết số 68-NQ/TW, Nghị quyết số 138/NQ-CP ngày 16/5/2025 của Chính phủ, Kế hoạch hành động số 08-KH/TU ngày 8/8/2025 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy và Đề án số 15-ĐA/TU ngày 10/12/2025 của Tỉnh ủy Thái Nguyên về phát triển kinh tế tư nhân giai đoạn 2026-2030, Sở Khoa học và Công nghệ chủ động lồng ghép các nhiệm vụ được giao vào chương trình, kế hoạch công tác của ngành, gắn với yêu cầu thực tiễn và mục tiêu phát triển kinh tế tư nhân. Qua triển khai, các nhiệm vụ về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số từng bước được cụ thể hóa, tạo động lực để doanh nghiệp tư nhân nâng cao năng lực cạnh tranh, đổi mới phương thức sản xuất, kinh doanh và mở rộng cơ hội phát triển.
Hoàn thiện cơ chế, chính sách hỗ trợ doanh nghiệp
Tạo nền tảng cho doanh nghiệp phát triển, công tác tham mưu xây dựng, hoàn thiện cơ chế, chính sách trong lĩnh vực khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số được đẩy mạnh. Sở Khoa học và Công nghệ tham mưu UBND tỉnh xây dựng, trình HĐND tỉnh ban hành Nghị quyết số 75/2026/NQ-HĐND ngày 13/8/2026 ban hành Quy định một số chính sách phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đến năm 2030. Các chính sách tập trung hỗ trợ doanh nghiệp trong tư vấn, khai thác và phát triển tài sản trí tuệ; phát triển doanh nghiệp khoa học và công nghệ, doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo; hỗ trợ các dự án khởi nghiệp sáng tạo; chuyển giao công nghệ và thực hiện các nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Trước đó, Sở tham mưu UBND tỉnh xây dựng, trình HĐND tỉnh ban hành Nghị quyết số 11/2026/NQ-HĐND ngày 28/4/2026 ban hành Quy định nội dung và mức chi quản lý, thực hiện chương trình, nhiệm vụ, hoạt động hỗ trợ thực hiện nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo sử dụng ngân sách nhà nước thuộc phạm vi quản lý của tỉnh Thái Nguyên. Đến nay, Sở đã phối hợp với Sở Tài chính thẩm định kinh phí 15 nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp tỉnh theo quy định của Nghị quyết này.
Trong lĩnh vực công nghiệp công nghệ số, Sở tham mưu UBND tỉnh xây dựng, trình HĐND tỉnh ban hành Nghị quyết số 60/2026/NQ-HĐND ngày 17/7/2026 ban hành Quy định tiêu chí, điều kiện, trình tự, thủ tục, nội dung và mức hỗ trợ từ ngân sách địa phương cho các dự án, doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực công nghiệp công nghệ số trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên. Các nội dung hỗ trợ bao gồm phát triển nguồn nhân lực công nghiệp công nghệ số; đầu tư các dự án sản xuất sản phẩm, cung cấp dịch vụ công nghệ số; nghiên cứu, sản xuất sản phẩm công nghệ số trọng điểm; phát triển chip bán dẫn và hệ thống trí tuệ nhân tạo; hỗ trợ dự án khởi nghiệp sáng tạo trong công nghiệp công nghệ số và hỗ trợ tham gia chuỗi cung ứng bán dẫn. Đây là những cơ sở chính sách quan trọng để doanh nghiệp có thêm điều kiện tiếp cận, ứng dụng công nghệ và tham gia sâu hơn vào các lĩnh vực công nghệ mới.
Hỗ trợ doanh nghiệp và hộ kinh doanh chuyển đổi số
Từ các chính sách được ban hành, hoạt động hỗ trợ doanh nghiệp, hộ kinh doanh từng bước được cụ thể hóa, hướng vào những yêu cầu thực tế trong quá trình chuyển đổi số và ứng dụng công nghệ. Trong đó, chương trình thí điểm hỗ trợ cửa hàng, hộ kinh doanh bán buôn, bán lẻ chuyển đổi số trên địa bàn tỉnh là một trong những nội dung được triển khai cụ thể, với những kết quả bước đầu rõ nét.
Thực hiện Kế hoạch phối hợp số 148/KHPH-BKHCN-UBND giữa Bộ Khoa học và Công nghệ, UBND tỉnh Thái Nguyên về thí điểm hỗ trợ cửa hàng, hộ kinh doanh bán buôn, bán lẻ chuyển đổi số trên địa bàn tỉnh, 100% xã, phường thuộc phạm vi triển khai đã tổ chức tuyên truyền, hỗ trợ bằng hình thức trực tiếp hoặc trực tuyến. Trong đó, 56 xã, phường tổ chức hội nghị tập trung với sự tham gia của cơ quan thuế và doanh nghiệp nền tảng số. Về mức độ tiếp cận và khảo sát, có 15.109 cửa hàng, hộ kinh doanh được tiếp cận và giới thiệu giải pháp, đạt 100,7% mục tiêu kế hoạch, trong đó 7.926 hộ có kết quả đánh giá mức độ chuyển đổi số trên hệ thống RDX. Về cài đặt, hướng dẫn sử dụng giải pháp số, có 7.478/15.109 cửa hàng, hộ kinh doanh hoàn thành cài đặt và được hướng dẫn sử dụng phần mềm. Kết quả này cho thấy chương trình đã được triển khai rộng đến cơ sở, từng bước đưa các giải pháp số đến gần hơn với cửa hàng, hộ kinh doanh.
Bên cạnh hỗ trợ chuyển đổi số, Sở Khoa học và Công nghệ hỗ trợ doanh nghiệp ứng dụng khoa học và công nghệ nhằm nâng cao năng suất lao động và chất lượng sản phẩm thông qua việc đề xuất, đặt hàng nhiệm vụ khoa học và công nghệ hằng năm. Hiện có 8 doanh nghiệp đang tham gia chủ trì thực hiện 8 đề tài, dự án khoa học và công nghệ cấp tỉnh; đồng thời hỗ trợ 13 doanh nghiệp. Nhiều nhiệm vụ tập trung vào ứng dụng công nghệ số, quản trị dữ liệu, nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm.
Phát triển doanh nghiệp khoa học và công nghệ, thúc đẩy đổi mới sáng tạo
Cùng với hỗ trợ ứng dụng công nghệ, việc phát triển các tổ chức khoa học và công nghệ và doanh nghiệp khoa học và công nghệ được xác định là một trong những nhiệm vụ quan trọng, góp phần thúc đẩy hệ sinh thái khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Trên địa bàn tỉnh hiện có 37 tổ chức khoa học và công nghệ đang hoạt động với tổng số nhân lực trên 700 người; trong đó có 30 tổ chức khoa học và công nghệ công lập và 7 tổ chức ngoài công lập; có 10 tổ chức khoa học và công nghệ tham gia thực hiện 16 nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo cấp tỉnh. Hiện toàn tỉnh có 15 doanh nghiệp khoa học và công nghệ được cấp Giấy chứng nhận đang hoạt động, 100% là doanh nghiệp tư nhân. Đối với hệ sinh thái đổi mới sáng tạo, trên địa bàn tỉnh hiện có 2 đơn vị sự nghiệp có chức năng, nhiệm vụ thực hiện hoạt động đổi mới sáng tạo, gồm Trung tâm Phát triển Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo thuộc Sở Khoa học và Công nghệ và Trung tâm Đổi mới sáng tạo Vùng thuộc Đại học Thái Nguyên. Đáng chú ý, Sở Khoa học và Công nghệ đang nghiên cứu, hoàn thiện hồ sơ đề xuất chủ trương Dự án đầu tư cơ sở hạ tầng từ nguồn đầu tư công cho Trung tâm Phát triển Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo, bảo đảm đáp ứng tiêu chí công nhận là Trung tâm đổi mới sáng tạo cấp tỉnh. Đồng thời, Sở tham mưu xem xét đề nghị của Đại học Thái Nguyên về hỗ trợ xây dựng một số hạng mục trọng điểm trong tổ hợp Trung tâm Đổi mới sáng tạo Vùng.
Việc phát triển các tổ chức khoa học và công nghệ, doanh nghiệp khoa học và công nghệ và từng bước hoàn thiện hạ tầng đổi mới sáng tạo đang tạo nền tảng để thúc đẩy đổi mới sáng tạo, tăng cường ứng dụng công nghệ và nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp.
Sở hữu trí tuệ góp phần nâng cao giá trị sản phẩm
Cùng với thúc đẩy đổi mới sáng tạo, việc bảo hộ và phát triển tài sản trí tuệ được quan tâm, qua đó góp phần nâng cao giá trị và sức cạnh tranh của sản phẩm. Sở Khoa học và Công nghệ hỗ trợ 1 đơn đăng ký bảo hộ sáng chế với số tiền 15 triệu đồng và cấp 12 Giấy chứng nhận quyền sử dụng chỉ dẫn địa lý “Tân Cương”. Trong 6 tháng đầu năm 2026, toàn tỉnh có 667 đơn đăng ký sở hữu công nghiệp, gồm 39 đơn sáng chế/giải pháp hữu ích, 21 đơn kiểu dáng công nghiệp và 607 đơn nhãn hiệu. Cùng thời gian, có 532 văn bằng bảo hộ được cấp, gồm 20 bằng sáng chế/giải pháp hữu ích, 5 bằng kiểu dáng công nghiệp và 507 giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu. Hiện tỉnh Thái Nguyên có 5 chỉ dẫn địa lý, 5 nhãn hiệu chứng nhận và 27 nhãn hiệu tập thể còn hiệu lực văn bằng bảo hộ. Nhãn hiệu tập thể “Chè Thái Nguyên” đã được bảo hộ tại Hoa Kỳ, Trung Quốc, Nga, Nhật Bản, Hàn Quốc và Đài Loan; chỉ dẫn địa lý “Tân Cương” được bảo hộ tại Liên minh châu Âu và Vương quốc Anh.
Việc bảo hộ tài sản trí tuệ góp phần tạo cơ sở để doanh nghiệp bảo vệ kết quả sáng tạo, nâng cao giá trị sản phẩm và phát triển thương hiệu, nhất là đối với những sản phẩm có lợi thế và đặc trưng của địa phương.

Tăng cường kết nối giữa cơ quan quản lý nhà nước, trường đại học, cộng đồng doanh nghiệp và các tổ chức quốc tế.
Tăng cường kết nối nghiên cứu với nhu cầu doanh nghiệp
Liên kết giữa cơ quan quản lý nhà nước, trường đại học, tổ chức khoa học và công nghệ và doanh nghiệp tiếp tục được thúc đẩy. Sở Khoa học và Công nghệ ký biên bản hợp tác trong nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ với Trường Đại học Nông lâm, Đại học Thái Nguyên; đồng thời phối hợp triển khai các hoạt động khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo với Hiệp hội Doanh nghiệp tỉnh. Hiện có 32 nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp tỉnh do Đại học Thái Nguyên, các trường đại học thành viên và các tổ chức khoa học và công nghệ trong tỉnh triển khai thực hiện. Trong lĩnh vực phát triển cây chè, ngày 15/7/2026, Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Thái Nguyên, Trung tâm Mã số, mã vạch quốc gia và Công ty Cổ phần Chè Quân Chu đã ký Biên bản thỏa thuận hợp tác về nghiên cứu, ứng dụng khoa học công nghệ phát triển cây chè giai đoạn 2026-2030. Những hoạt động hợp tác này hướng tới việc gắn nghiên cứu khoa học với nhu cầu thực tiễn của doanh nghiệp, tạo điều kiện để kết quả nghiên cứu được ứng dụng vào sản xuất và kinh doanh.

Cán bộ, nhân viên Công ty Cổ phần Đầu tư và Thương mại TNG ứng dụng công nghệ trong hoạt động sản xuất, kinh doanh.
Từng bước thúc đẩy chuyển đổi xanh
Phát triển bền vững được lồng ghép trong các nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Sở Khoa học và Công nghệ triển khai các nội dung về sản xuất sạch hơn, sử dụng hiệu quả tài nguyên, tiết kiệm năng lượng, giảm phát thải, tăng trưởng xanh và phát triển bền vững thông qua việc đề xuất, tuyển chọn và tổ chức thực hiện các nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp tỉnh. Hiện đang triển khai 4 đề tài, dự án về tăng trưởng xanh và thúc đẩy đổi mới sáng tạo theo hướng xanh, bền vững. Các nhiệm vụ tập trung vào nghiên cứu, ứng dụng giải pháp công nghệ phục vụ chuyển đổi xanh, nâng cao hiệu quả sử dụng tài nguyên trong sản xuất, kinh doanh. Trong năm 2026, Sở tiếp tục tham mưu triển khai nhiệm vụ nghiên cứu xây dựng bộ công cụ đo lường và theo dõi phục vụ chuyển đổi xanh tỉnh Thái Nguyên đến năm 2030. Riêng mô hình thí điểm “doanh nghiệp chuyển đổi số - xanh” tại tỉnh hiện đang được nghiên cứu triển khai;… Qua đó, từng bước đưa khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo trở thành động lực thúc đẩy chuyển đổi xanh, nâng cao hiệu quả sử dụng tài nguyên và phát triển bền vững.
Cải cách thủ tục hành chính tạo thuận lợi cho doanh nghiệp
Cùng với các chính sách hỗ trợ trực tiếp, Sở Khoa học và Công nghệ tiếp tục thực hiện cải cách thủ tục hành chính, cung cấp dịch vụ công và triển khai cơ chế “Luồng xanh”. Sở có 5 thủ tục hành chính đăng ký thực hiện cơ chế “Luồng xanh 60%” theo Công văn số 5208/UBND-TTPVHCC ngày 13/5/2026 của UBND tỉnh về thực hiện thủ tục hành chính theo cơ chế “Luồng xanh” trên địa bàn tỉnh. Trong kỳ báo cáo, Sở đã tiếp nhận và giải quyết 4 hồ sơ theo quy định.
Thực hiện Kế hoạch số 31/KH-UBND ngày 30/01/2026 của UBND tỉnh, 100% danh mục thủ tục hành chính thuộc phạm vi chức năng quản lý của Sở được thực hiện không phụ thuộc vào địa giới hành chính; đồng thời thực hiện số hóa 100% hồ sơ, kết quả giải quyết thủ tục hành chính. Trong kỳ báo cáo, Sở không có thủ tục hành chính đề xuất cắt giảm, đơn giản hóa thuộc phạm vi quản lý được quy định tại văn bản của HĐND, UBND tỉnh liên quan đến hoạt động sản xuất, kinh doanh.
Tiếp tục tạo nền tảng cho khu vực kinh tế tư nhân
Thời gian tới, Sở Khoa học và Công nghệ tiếp tục hoàn thiện cơ chế, chính sách về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, tạo thuận lợi hơn cho khu vực kinh tế tư nhân tiếp cận các nguồn lực và ứng dụng công nghệ. Chương trình hỗ trợ chuyển đổi số cho cửa hàng, hộ kinh doanh sẽ được triển khai hiệu quả hơn; hệ sinh thái đổi mới sáng tạo tiếp tục được phát triển, gắn với tăng cường kết nối giữa Nhà nước, nhà trường và doanh nghiệp. Cùng với đó, các hoạt động hỗ trợ doanh nghiệp tiếp cận, ứng dụng công nghệ, chuyển đổi số, nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm sẽ được đẩy mạnh, ưu tiên doanh nghiệp nhỏ và vừa, doanh nghiệp khởi nghiệp. Cải cách thủ tục hành chính, nâng cao chất lượng dịch vụ công trực tuyến tiếp tục được thực hiện, cùng với triển khai hiệu quả các cơ chế “Luồng xanh 24 giờ”, “Luồng xanh 60%”, góp phần rút ngắn thời gian và tạo thuận lợi cho doanh nghiệp.
Từ hoàn thiện cơ chế, chính sách đến hỗ trợ chuyển đổi số, ứng dụng công nghệ, phát triển tài sản trí tuệ, thúc đẩy khởi nghiệp sáng tạo và chuyển đổi xanh, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đang ngày càng gắn với nhu cầu phát triển của khu vực kinh tế tư nhân. Đây là nền tảng quan trọng để doanh nghiệp nâng cao năng lực cạnh tranh, mở rộng cơ hội phát triển và hướng tới tăng trưởng hiệu quả, bền vững.