Đánh giá mô hình khai thác, phát triển bền vững giống lúa đặc sản Định Hóa gắn với nhãn hiệu tập thể
Ngày 14/10/2026, Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển lúa thuần phối hợp với UBND xã Phượng Tiến tổ chức Hội thảo đầu bờ, tham quan và đánh giá mô hình “Khai thác và phát triển bền vững đối với hai giống lúa Bao thai hồng Định Hóa và Nếp vải Định Hóa”. Tham dự Hội thảo có chuyên viên Phòng Quản lý khoa học, Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Thái Nguyên cùng đại diện chính quyền địa phương và các hộ nông dân tham gia mô hình.
Đại biểu tham quan, đánh giá mô hình giống lúa Bao thai hồng Định Hóa tại xã Phượng Tiến, tỉnh Thái Nguyên.
Mô hình là nội dung thuộc đề tài “Nghiên cứu, phục tráng giống lúa Bao thai hồng Định Hóa, Nếp vải Định Hóa và xây dựng nhãn hiệu tập thể Nếp vải Định Hóa nhằm hỗ trợ xây dựng nông thôn mới tại huyện Định Hóa (cũ), tỉnh Thái Nguyên”, được triển khai từ năm 2023. Đề tài hướng đến khôi phục nguồn gen lúa bản địa, nâng cao chất lượng giống, phát huy giá trị sản phẩm đặc trưng và thúc đẩy phát triển nông nghiệp hàng hóa bền vững tại địa phương.
Trong vụ mùa năm 2026, Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển lúa thuần phối hợp với UBND các xã Phú Đình, Kim Phượng, Định Hóa và Phượng Tiến triển khai mô hình trên tổng diện tích 80 ha. Trong đó, giống lúa Bao thai hồng Định Hóa được triển khai trên 20 ha với 138 hộ dân tại 3 xã Kim Phượng, Định Hóa và Phượng Tiến; giống lúa Nếp vải Định Hóa mang nhãn hiệu tập thể được triển khai trên 60 ha với 446 hộ dân tại 4 xã. Quá trình thực hiện, các hộ dân được hỗ trợ thóc giống, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật và hướng dẫn áp dụng quy trình canh tác hoàn thiện, từ gieo cấy đúng thời vụ, bố trí mật độ 20–25 khóm/m², bón phân NPK cân đối kết hợp phân hữu cơ vi sinh đến quản lý dịch hại tổng hợp (IPM). Trung tâm cũng tổ chức 6 lớp tập huấn kỹ thuật, với khoảng 50 học viên mỗi lớp, giúp người dân nâng cao kiến thức và kỹ năng sản xuất. Các cán bộ chuyên môn thường xuyên theo dõi tình hình sinh trưởng, phát triển của cây lúa, đánh giá khả năng chống chịu sâu bệnh, các yếu tố cấu thành năng suất và hướng dẫn chăm sóc phù hợp với điều kiện thực tế. Qua đó, từng bước hoàn thiện quy trình kỹ thuật, nâng cao hiệu quả sử dụng vật tư nông nghiệp và giảm chi phí sản xuất.
Kết quả bước đầu cho thấy mô hình phát huy hiệu quả tích cực. Việc áp dụng quy trình canh tác mới giúp cây lúa sinh trưởng tương đối đồng đều, giảm khoảng 20–30% chi phí giống và thuốc bảo vệ thực vật, năng suất dự kiến tăng trên 15% so với phương thức canh tác trước đây. Đối với giống lúa Bao thai hồng Định Hóa, trên diện tích 20 ha, cây lúa sinh trưởng khoảng 130 ngày, đã trỗ xong và đang trong giai đoạn chuẩn bị thu hoạch. Năng suất dự kiến đạt 44–50 tạ/ha, cao hơn khoảng 15–18% so với quy trình canh tác cũ chưa được phục tráng. Thời gian thu hoạch dự kiến từ ngày 1 đến 10/11/2026. Đối với giống lúa Nếp vải Định Hóa, trên diện tích 60 ha, cây lúa sinh trưởng khoảng 120–130 ngày, năng suất dự kiến đạt 58–62 tạ/ha. Kết quả này cho thấy triển vọng nâng cao hiệu quả sản xuất, đồng thời tạo điều kiện phát triển sản phẩm nếp đặc sản gắn với nhãn hiệu tập thể. Thời gian thu hoạch dự kiến từ ngày 10 đến 20/11/2026. Bên cạnh kết quả về sinh trưởng và năng suất, mô hình còn nhận được sự đồng thuận của người dân. Chất lượng giống phục tráng tốt, cây lúa sinh trưởng khỏe, trỗ tương đối đồng đều, khả năng chống chịu sâu bệnh khá; lượng giống và số lần sử dụng thuốc bảo vệ thực vật được giảm, góp phần nâng cao hiệu quả kinh tế. Nhiều hộ dân mong muốn tiếp tục áp dụng quy trình kỹ thuật và mở rộng diện tích trong các vụ sản xuất tiếp theo.

Đại biểu tham quan, đánh giá mô hình giống lúa Nếp vải Định Hóa tại xã Phượng Tiến, tỉnh Thái Nguyên.
Tại Hội thảo, các đại biểu trực tiếp kiểm tra đồng ruộng, trao đổi về kết quả triển khai, hiệu quả áp dụng tiến bộ kỹ thuật và khả năng nhân rộng mô hình. Các ý kiến cũng đề xuất tiếp tục hoàn thiện hồ sơ xác lập đơn vị chủ sở hữu nhãn hiệu tập thể “Nếp vải Định Hóa”; nghiên cứu chính sách hỗ trợ mở rộng diện tích sản xuất, xây dựng chuỗi liên kết tiêu thụ sản phẩm và gắn sản xuất với phát triển thương hiệu nông sản địa phương.
Việc triển khai mô hình góp phần khẳng định vai trò của khoa học và công nghệ trong bảo tồn, phục tráng và phát triển các giống cây trồng đặc sản; thúc đẩy ứng dụng tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất nông nghiệp, nâng cao năng suất, chất lượng và giá trị nông sản. Đây cũng là cơ sở quan trọng để khai thác hiệu quả nhãn hiệu tập thể, xây dựng chuỗi giá trị sản phẩm và phát triển nông nghiệp bền vững, gắn với xây dựng nông thôn mới tại địa phương./.