image banner
Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo: Động lực bứt phá tăng trưởng giai đoạn 2026–2030
Lượt xem: 0
Ngày 24/4/2026, Bộ Khoa học và Công nghệ ban hành Quyết định số 2227/QĐ-BKHCN về Kế hoạch tổng thể khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo 5 năm giai đoạn 2026–2030. Kế hoạch này được xây dựng trên cơ sở Luật Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo năm 2025, các nghị định hướng dẫn thi hành và Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2021–2030, đồng thời cụ thể hóa định hướng phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo gắn với mục tiêu tăng trưởng kinh tế “hai con số” trong giai đoạn tới.

Trong giai đoạn 2021–2025, khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo của Việt Nam đã có bước chuyển biến rõ nét, đóng góp tích cực vào tăng trưởng kinh tế, nâng cao năng suất và sức cạnh tranh quốc gia. Đóng góp của năng suất nhân tố tổng hợp (TFP) đạt khoảng 47%; chỉ số đổi mới sáng tạo toàn cầu (GII) được cải thiện, năm 2025 xếp thứ 44/139; hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo từng bước phát triển. Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, lĩnh vực này vẫn còn tồn tại những hạn chế như tiềm lực khoa học, công nghệ chưa tương xứng, phụ thuộc vào công nghệ nhập khẩu, doanh nghiệp chưa thực sự là trung tâm của hệ thống đổi mới sáng tạo, thị trường khoa học và công nghệ phát triển chậm. Từ thực tiễn đó, Kế hoạch giai đoạn 2026–2030 đặt ra mục tiêu tổng quát là đưa khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo trở thành động lực chủ yếu của tăng trưởng kinh tế “hai con số”, góp phần bảo đảm quốc phòng, an ninh, phát triển bền vững và nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân. Đồng thời, hướng tới xây dựng hệ thống đổi mới sáng tạo quốc gia hiện đại, hội nhập, tăng cường liên kết giữa khu vực nhà nước và khu vực tư nhân, thúc đẩy thương mại hóa kết quả nghiên cứu và phát triển công nghệ. 

Cụ thể hóa mục tiêu trên, Kế hoạch đề ra nhiều chỉ tiêu quan trọng đến năm 2030 như: đóng góp của TFP vào tăng trưởng kinh tế đạt trên 55%; tổng đầu tư xã hội cho nghiên cứu và phát triển đạt tối thiểu 2% GDP; tỷ trọng xuất khẩu sản phẩm công nghệ cao đạt tối thiểu 50%; chỉ số đổi mới sáng tạo toàn cầu thuộc nhóm 40 quốc gia hàng đầu thế giới. Bên cạnh đó, tỷ lệ doanh nghiệp có hoạt động đổi mới sáng tạo đạt trên 40%; tỷ lệ kết quả nghiên cứu từ viện, trường được ứng dụng và thương mại hóa đạt tối thiểu 30%. Để đạt được các mục tiêu này, Kế hoạch xác định nhóm nhiệm vụ đầu tiên là hoàn thiện cơ chế, chính sách phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo theo hướng phù hợp với nguyên tắc thị trường, chuẩn mực quốc tế và đặc thù lao động sáng tạo; đồng thời, đổi mới cơ chế tổ chức thực hiện nhiệm vụ khoa học, công nghệ theo hướng đặt hàng gắn với các bài toán lớn của quốc gia, tăng cường khoán chi đến sản phẩm cuối cùng và áp dụng cơ chế hậu kiểm, qua đó nâng cao hiệu quả và trách nhiệm giải trình. 

Tiếp đó, Kế hoạch nhấn mạnh việc huy động và sử dụng hiệu quả nguồn lực, với định hướng thực hiện mô hình “ngân sách nhà nước dẫn dắt – xã hội cùng đầu tư”. Ngân sách nhà nước tập trung đầu tư cho hạ tầng lõi, nền tảng số, cơ sở dữ liệu quốc gia và các dự án công nghệ quy mô lớn; trong khi nguồn lực ngoài ngân sách tham gia đầu tư vào thiết bị, công nghệ và dịch vụ. Việc phân bổ nguồn lực được thực hiện theo nguyên tắc gắn với kết quả đầu ra, ưu tiên các nhiệm vụ có khả năng thương mại hóa và tác động lan tỏa lớn. Song song với đó, phát triển hạ tầng khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo được xác định là nhiệm vụ trọng tâm. Kế hoạch ưu tiên đầu tư hệ thống phòng thí nghiệm trọng điểm, cơ sở thử nghiệm, trung tâm dữ liệu, trung tâm trí tuệ nhân tạo và siêu máy tính phục vụ nghiên cứu và phát triển. Đồng thời, xây dựng hệ thống dữ liệu và nền tảng số dùng chung, bảo đảm kết nối, chia sẻ và khai thác hiệu quả trong toàn hệ thống.  

Cùng với hạ tầng, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao được đặt ra với yêu cầu đồng bộ và dài hạn đạt 12 người trên một vạn dân; tăng tỷ lệ lao động trí thức trong các ngành công nghệ cao lên 25%; thu hút khoảng 1.000 lượt trí thức Việt Nam ở nước ngoài tham gia nghiên cứu, đào tạo và chuyển giao công nghệ trong nước. Trên cơ sở đó, Kế hoạch tập trung nâng cao năng lực làm chủ và phát triển các công nghệ chiến lược quốc gia, như: trí tuệ nhân tạo, bán dẫn, dữ liệu lớn, công nghệ sinh học, vật liệu tiên tiến, năng lượng sạch và robot. Việc triển khai được thực hiện theo chuỗi giá trị từ nghiên cứu đến thương mại hóa, gắn với phát triển sản phẩm công nghệ chiến lược “Make in Viet Nam”, nâng cao tỷ lệ nội địa hóa và tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu. 

Cùng với việc phát triển doanh nghiệp, Kế hoạch khuyến khích hình thành các quỹ đầu tư, cơ chế cùng đầu tư và chia sẻ lợi ích giữa viện nghiên cứu, trường đại học, doanh nghiệp và nhà đầu tư; thúc đẩy hình thành các doanh nghiệp spin-off, spin-out. Đồng thời, xây dựng bộ công cụ đánh giá trình độ công nghệ của doanh nghiệp, triển khai bản đồ và lộ trình đổi mới công nghệ ở cấp quốc gia, ngành, địa phương và doanh nghiệp, hỗ trợ doanh nghiệp tiếp nhận, làm chủ và phát triển công nghệ. Bên cạnh đó, việc thúc đẩy thương mại hóa tài sản trí tuệ và phát triển thị trường khoa học và công nghệ cũng được chú trọng. Kế hoạch đặt ra yêu cầu hoàn thiện các công cụ hỗ trợ định giá, chuyển giao, khai thác tài sản trí tuệ; phát triển tổ chức trung gian và đội ngũ tư vấn, môi giới công nghệ; tăng cường kết nối cung – cầu và mở rộng thị trường trong nước và quốc tế. Ngoài ra, hợp tác quốc tế về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo được định hướng chuyển mạnh sang hợp tác chiến lược, cùng phát triển công nghệ, ưu tiên các lĩnh vực công nghệ cao. Thông qua đó, nâng cao năng lực nội sinh, tiếp thu và làm chủ công nghệ tiên tiến, đồng thời hỗ trợ doanh nghiệp tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu. 

Để bảo đảm tổ chức thực hiện hiệu quả, Bộ Khoa học và Công nghệ được giao chủ trì, điều phối, hướng dẫn và kiểm tra việc triển khai Kế hoạch trên phạm vi toàn quốc. Các bộ, ngành, địa phương căn cứ Kế hoạch để xây dựng chương trình, nhiệm vụ cụ thể, gắn với mục tiêu phát triển của từng lĩnh vực, địa bàn. Việc quản lý, giám sát được thực hiện trên nền tảng số, với hệ thống chỉ tiêu đánh giá theo chuỗi đầu vào – đầu ra – kết quả – tác động, bảo đảm minh bạch và hiệu quả. Việc ban hành Kế hoạch tổng thể khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo giai đoạn 2026–2030 thể hiện rõ quyết tâm của Chính phủ trong việc tạo đột phá phát triển dựa trên tri thức, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Với định hướng đồng bộ, giải pháp toàn diện và cơ chế thực hiện linh hoạt, Kế hoạch được kỳ vọng sẽ góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, thúc đẩy tăng trưởng nhanh và bền vững, đưa khoa học, công nghệ thực sự trở thành động lực trung tâm của phát triển kinh tế - xã hội trong giai đoạn tới.
Thông tin chi tiết xem tại file đính kèm./. 

qd-2227quy-hoach-khcn.pdf



image advertisement
  
image advertisement
image advertisement
image advertisement
image advertisement
image advertisement
Thống kê truy cập
  • Đang online: 1
  • Hôm nay: 1
  • Trong tuần: 1
  • Tất cả: 1
TRANG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ SỞ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
Địa chỉ: Số 5, đường Nha Trang, phường Phan Đình Phùng, tỉnh Thái Nguyên
 Chịu trách nhiệm quản lý nội dung: Đ/c: Nguyễn Thị Thủy - Phó Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ Số điện thoại: 0208.3501.260 Email: sokhcn@thainguyen.gov.vn
Cơ quan chủ quản: Sở Khoa Học Và Công Nghệ
Ghi rõ nguồn tin "Sở Khoa Học Và Công Nghệ" khi phát hành lại thông tin từ website này