Khoa học, công nghệ và chuyển đổi số: Tạo chuyển biến thực chất, thúc đẩy phát triển địa phương
Bám sát chỉ đạo của Chính phủ, Bộ Khoa học và Công nghệ, Tỉnh ủy, UBND tỉnh, Sở Khoa học và Công nghệ Thái Nguyên đã chủ động cụ thể hóa các nhiệm vụ của Nghị quyết số 01/NQ-CP và Nghị quyết số 57-NQ/TW, gắn với yêu cầu phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Qua 9 tháng đầu năm 2026, việc triển khai các nghị quyết đã tạo chuyển biến trên nhiều lĩnh vực, từ hoàn thiện thể chế, phát triển hạ tầng, dữ liệu số đến thúc đẩy nghiên cứu, ứng dụng công nghệ, hỗ trợ doanh nghiệp và nâng cao chất lượng phục vụ người dân.
Trên cơ sở các nhiệm vụ được giao, Sở Khoa học và Công nghệ theo dõi, đánh giá 34 chỉ tiêu phát triển kinh tế - xã hội; đến nay, 21 chỉ tiêu đã hoàn thành, trong đó 13 chỉ tiêu đạt và 08 chỉ tiêu vượt kế hoạch. Trong 57 nhiệm vụ trọng tâm do UBND tỉnh, Chủ tịch và các Phó Chủ tịch UBND tỉnh giao, 40 nhiệm vụ đã hoàn thành, 17 nhiệm vụ đang được triển khai. Kết quả này cho thấy yêu cầu đưa nghị quyết vào chương trình công tác cụ thể, gắn với tiến độ và trách nhiệm của từng nhiệm vụ đang được thực hiện rõ hơn.
Đồng chí Hoàng Văn Thiên - Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ, Trưởng đoàn công tác Sở Khoa học và Công nghệ kiểm tra thực tế mô hình nuôi thủy sản lồng trên hồ chứa
Hoàn thiện thể chế tiếp tục được xác định là nền tảng để tổ chức thực hiện đồng bộ các nhiệm vụ. Trong 9 tháng đầu năm, Sở đã hoàn thành tham mưu 16/16 văn bản quy phạm pháp luật theo kế hoạch, gồm 08 nghị quyết của HĐND tỉnh và 08 quyết định của UBND tỉnh, tập trung vào các lĩnh vực khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, sở hữu trí tuệ, tiêu chuẩn, đo lường và chất lượng. Đây là cơ sở pháp lý quan trọng để triển khai chính sách, bố trí nguồn lực và thúc đẩy các hoạt động khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo trên địa bàn. Cùng với hoàn thiện thể chế, việc thực hiện Nghị quyết số 01/NQ-CP được gắn với nâng cao năng lực quản lý và sức cạnh tranh của nền kinh tế. Sở tập trung thúc đẩy nghiên cứu, ứng dụng và đổi mới công nghệ; phát triển hạ tầng, dữ liệu và các nền tảng số dùng chung; nâng cao chất lượng dịch vụ công trực tuyến; hỗ trợ doanh nghiệp đổi mới sáng tạo, phát triển tài sản trí tuệ, năng suất và chất lượng.
Nguồn lực khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo được định hướng vào những lĩnh vực có khả năng tạo tác động lớn đối với phát triển kinh tế - xã hội. Sở hiện quản lý 145 nhiệm vụ khoa học và công nghệ; đã nghiệm thu 18 nhiệm vụ, kiểm tra tiến độ 65 nhiệm vụ và tổ chức 37 hội đồng tuyển chọn nhiệm vụ cấp tỉnh. Cùng với đó, 18 bài toán lớn đã được công bố, 11 nhiệm vụ về công nghệ chiến lược đang được triển khai, trong đó 100% có nội dung ứng dụng trí tuệ nhân tạo. 05 nhóm công nghệ chiến lược được tỉnh xác định gồm công nghệ và hệ sinh thái đồ họa số; công nghệ và hệ sinh thái phần mềm, trí tuệ nhân tạo ứng dụng chuyên ngành; công nghệ và hệ sinh thái tự động hóa công nghiệp, người máy; công nghệ và hệ sinh thái thiết bị bay không người lái; công nghệ và hệ sinh thái bán dẫn IoT, qua đó, từng bước chuyển hoạt động nghiên cứu khoa học từ triển khai theo nhu cầu đơn lẻ sang tập trung vào các công nghệ có tiềm năng tạo ra giá trị và tác động rộng hơn.

Sở Khoa học và Công nghệ quản lý 145 nhiệm vụ khoa học và công nghệ, góp phần giải quyết các bài toán thực tiễn, thúc đẩy phát triển địa phươngThực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW, tỉnh đặc biệt chú trọng xây dựng nền tảng để khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trở thành động lực phát triển. Theo báo cáo, tổng số nhiệm vụ được giao theo Nghị quyết 57 và các kế hoạch, thông báo kết luận liên quan là 274 nhiệm vụ; trong đó 169 nhiệm vụ đã hoàn thành, chiếm 61,67%; 99 nhiệm vụ thường xuyên và 06 nhiệm vụ đang thực hiện đúng hạn, không có nhiệm vụ quá hạn chưa hoàn thành. Đối với Đề án số 22-ĐA/TU, kế hoạch năm 2026 đề ra 61 chỉ tiêu và 49 nhiệm vụ; đến nay đã hoàn thành 39/61 chỉ tiêu và 29/49 nhiệm vụ, các nội dung còn lại đang được triển khai theo tiến độ.
Một trong những kết quả có ý nghĩa nền tảng là hạ tầng số tiếp tục được đầu tư, mở rộng, tạo điều kiện đưa chuyển đổi số đi vào chiều sâu. Từ đầu năm, toàn tỉnh phát triển mới 486 trạm BTS, trong đó có 282 trạm 5G và 204 trạm 4G; nâng tổng số trạm BTS lên 6.494, với 877 trạm 5G, tỷ lệ dân số được phủ sóng 5G ước đạt 85%. Đáng chú ý, 59 thôn, bản trước đây chưa có sóng di động đã được phủ sóng, qua đó bảo đảm 100% thôn, xóm trên địa bàn có sóng di động. Hạ tầng cáp quang đã được triển khai đến 100% xã, phường; tỷ lệ người sử dụng có khả năng truy nhập băng rộng cố định tốc độ trên 1Gb/s đạt 96%, tạo nền tảng kết nối phục vụ quản lý, sản xuất, kinh doanh và tiếp cận các dịch vụ số của người dân.
Nếu hạ tầng là điều kiện cần thì dữ liệu là một trong những nền tảng cốt lõi để chuyển đổi số tạo ra giá trị thực chất. Đến ngày 27/9/2026, tỉnh đã hoàn thành kết nối, tích hợp 62/125 cơ sở dữ liệu về Kho dữ liệu dùng chung qua API, đạt 49,6%, với tổng dung lượng dữ liệu cập nhật trên 1,2TB. Đáng chú ý, 77/125 cơ sở dữ liệu đã đáp ứng đầy đủ tiêu chí “đúng - đủ - sạch - sống”. Dữ liệu trong các lĩnh vực tài chính, giáo dục, y tế, đất đai từng bước được đưa lên hệ thống phục vụ điều hành, cho thấy chuyển đổi số đang hướng tới khai thác dữ liệu để nâng cao chất lượng quản trị và hỗ trợ quá trình ra quyết định.
Cùng với đó, chuyển đổi số được mở rộng từ khu vực cơ quan nhà nước sang cộng đồng doanh nghiệp và người dân. Tỉnh đã hỗ trợ gần 6.000 hộ kinh doanh tại 60 xã, phường triển khai các giải pháp công nghệ số cơ bản phù hợp nhu cầu. Thanh toán không dùng tiền mặt tiếp tục được mở rộng trong nhiều lĩnh vực; 100% đơn vị hưởng lương ngân sách nhận lương qua tài khoản; tỷ lệ cá nhân đăng ký và sử dụng EtaxMobile đạt 99%; thanh toán tiền điện không dùng tiền mặt đạt 100%. Những kết quả này cho thấy công nghệ số đang ngày càng gắn với các hoạt động thường nhật, từ quản lý, giao dịch đến sản xuất, kinh doanh.

Đồng chí Hoàng Văn Thiên, Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ tham quan sản phẩm công nghệ, đổi mới sáng tạo của Công ty Cổ phần Đầu tư và Thương mại TNG
Đối với phát triển hệ sinh thái đổi mới sáng tạo, tỉnh đã phối hợp với Đại học Thái Nguyên nghiên cứu, thành lập Trung tâm Đổi mới sáng tạo Vùng; ký kết hợp tác toàn diện giai đoạn 2026-2030; triển khai thu thập dữ liệu phục vụ tính toán Chỉ số đổi mới sáng tạo cấp địa phương (PII) năm 2026 và tổ chức Cuộc thi “Đổi mới sáng tạo - Vì Thái Nguyên thân yêu” lần thứ 2. Đến nay, tỉnh có 38 tổ chức khoa học và công nghệ đang hoạt động với hơn 973 nhân lực; 15 doanh nghiệp khoa học và công nghệ đang hoạt động. Đây là cơ sở để tăng cường liên kết giữa Nhà nước, viện nghiên cứu, trường đại học và doanh nghiệp, từng bước đưa hoạt động đổi mới sáng tạo gần hơn với nhu cầu thực tiễn.
Công tác phát triển nguồn nhân lực số được chú trọng, gắn với yêu cầu chuyển đổi số từ tỉnh đến cơ sở. Nhiều hoạt động tập huấn về chuyển đổi số, dịch vụ công trực tuyến, định danh điện tử, thương mại điện tử, trí tuệ nhân tạo, an toàn thông tin và phòng, chống lừa đảo trên không gian mạng được triển khai. Tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi đã tổ chức 68 lớp, hội nghị tập huấn kỹ năng số với trên 6.000 lượt người tham gia; riêng Sở Khoa học và Công nghệ tổ chức 12 lớp cho thành viên Tổ công nghệ số cộng đồng tại 12 xã, phường với hơn 1.200 lượt người. Qua đó, việc phổ cập kỹ năng số từng bước được đưa từ chủ trương thành hoạt động cụ thể ở cơ sở.
Những kết quả trên cho thấy việc thực hiện Nghị quyết số 01/NQ-CP và Nghị quyết số 57-NQ/TW tại Thái Nguyên đang ngày càng đi vào thực chất, với trọng tâm không chỉ là hoàn thành nhiệm vụ hành chính mà hướng tới hình thành những năng lực phát triển mới. Thể chế được hoàn thiện để tạo hành lang; hạ tầng số được mở rộng để tăng khả năng kết nối; dữ liệu được chuẩn hóa để phục vụ quản trị; khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo được định hướng vào các bài toán thực tiễn; doanh nghiệp và người dân ngày càng tham gia sâu hơn vào quá trình chuyển đổi số. Đây chính là mối liên kết cần thiết để các nghị quyết không dừng ở chủ trương mà từng bước chuyển hóa thành kết quả cụ thể trong đời sống kinh tế - xã hội.
Phát huy những kết quả đạt được, trong những tháng cuối năm, cùng với việc bảo đảm tiến độ các nhiệm vụ đã đề ra, tỉnh cần tập trung nguồn lực cho những lĩnh vực còn khoảng cách so với mục tiêu. Trọng tâm là đẩy nhanh các nhiệm vụ khoa học và công nghệ, ưu tiên công nghệ chiến lược, sản phẩm chủ lực và những bài toán thực tiễn của tỉnh; thúc đẩy Dự án Chuyển đổi số, Kho dữ liệu dùng chung, IOC, C-ThaiNguyen và các nền tảng số; nâng cao chất lượng dữ liệu, mở rộng kết nối, chia sẻ và bảo đảm an toàn thông tin. Hạ tầng viễn thông cần tiếp tục được mở rộng, phấn đấu nâng tỷ lệ dân số được phủ sóng 5G lên 95% trong năm 2026; cùng với đó là hoàn thiện mã nhận diện thương hiệu “Chè Thái Nguyên”, thúc đẩy truy xuất nguồn gốc và chuyển đổi số ngành chè; tăng cường kết nối viện, trường với doanh nghiệp, hỗ trợ thương mại hóa kết quả nghiên cứu và phát triển nguồn nhân lực về công nghệ số, dữ liệu, trí tuệ nhân tạo và an toàn thông tin.
Với cách làm có trọng tâm, trọng điểm và lấy kết quả thực chất làm thước đo, việc triển khai Nghị quyết số 01/NQ-CP và Nghị quyết số 57-NQ/TW đang tạo thêm nền tảng để Thái Nguyên nâng cao năng lực khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Quan trọng hơn, từ những kết quả bước đầu, tỉnh đang từng bước hình thành hệ sinh thái trong đó khoa học và công nghệ gắn chặt hơn với sản xuất, kinh doanh; đổi mới sáng tạo gắn với nhu cầu thị trường; dữ liệu trở thành nguồn lực cho quản trị và phát triển. Đây sẽ là nền tảng quan trọng để Thái Nguyên tiếp tục nâng cao năng suất, chất lượng, sức cạnh tranh và hình thành những động lực tăng trưởng mới trong giai đoạn 2026-2030.