Khoa học, công nghệ và chuyển đổi số - Động lực phát triển nông nghiệp hàng hóa tỉnh Thái Nguyên
Nghị quyết số 12-NQ/TU của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về phát triển nông nghiệp hàng hóa giai đoạn 2026 - 2030 đã xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là nền tảng quan trọng để xây dựng nền nông nghiệp hiện đại, xanh, thông minh và bền vững. Với những kết quả đã đạt được trong nghiên cứu, ứng dụng và chuyển giao công nghệ, Thái Nguyên đang từng bước hình thành các vùng sản xuất hàng hóa quy mô lớn, nâng cao giá trị nông sản và khẳng định vị thế trên thị trường.

Lãnh đạo Sở Khoa học và Công nghệ tham quan mô hình “Thâm canh giống Hồng Việt Cường” thuộc dự án Khoa học và Công nghệ cấp tỉnh.
Khoa học, công nghệ và chuyển đổi số - Nền tảng phát triển nông nghiệp hàng hóa
Trong xu thế phát triển nông nghiệp theo hướng hiện đại, hiệu quả và bền vững, khoa học, công nghệ và chuyển đổi số không còn là yếu tố hỗ trợ mà đã trở thành động lực trực tiếp thúc đẩy tăng trưởng. Đối với Thái Nguyên là địa phương có nhiều lợi thế về đất đai, khí hậu và các sản phẩm nông nghiệp đặc trưng, việc ứng dụng thành tựu khoa học và công nghệ đang mở ra cơ hội nâng cao năng suất, chất lượng, giá trị gia tăng và khả năng cạnh tranh của nông sản.
Nhằm cụ thể hóa các chủ trương của Trung ương về phát triển nông nghiệp, nông dân, nông thôn trong giai đoạn mới, Ban Thường vụ Tỉnh ủy ban hành Nghị quyết số 12-NQ/TU ngày 02/7/2026 về phát triển nông nghiệp hàng hóa tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2026 - 2030, với mục tiêu tạo bước đột phá trong cơ cấu lại ngành nông nghiệp, phát huy hiệu quả tiềm năng, lợi thế của từng vùng, từng địa phương, nâng cao thu nhập cho người dân và xây dựng nền nông nghiệp hiện đại, xanh, thông minh, hội nhập. Nghị quyết không chỉ xác định các mục tiêu, chỉ tiêu cụ thể đối với từng lĩnh vực trồng trọt, chăn nuôi, lâm nghiệp và thủy sản mà còn nhấn mạnh yêu cầu đẩy mạnh ứng dụng khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, phát triển sản xuất theo tiêu chuẩn chất lượng, an toàn thực phẩm và truy xuất nguồn gốc nhằm nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả sản xuất, gia tăng giá trị sản phẩm và sức cạnh tranh của nông sản trên thị trường.
Theo Nghị quyết, mục tiêu tổng quát đến năm 2030 là khai thác tối đa tiềm năng, lợi thế chiến lược và không gian phát triển mới sau khi sắp xếp đơn vị hành chính cấp tỉnh để xây dựng nền nông nghiệp hàng hóa tập trung theo hướng hiện đại, có giá trị gia tăng cao và sức cạnh tranh mạnh mẽ trên thị trường. Trọng tâm là hình thành các vùng sản xuất nông nghiệp chủ lực, chuyên canh quy mô lớn, an toàn, hữu cơ, tuần hoàn, bền vững, thích ứng với biến đổi khí hậu trên nền tảng ứng dụng khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số toàn diện. Đồng thời, đẩy mạnh phát triển công nghiệp chế biến, đặc biệt là chế biến tinh, chế biến sâu, phát triển dịch vụ logistics, đa dạng hóa sản phẩm gắn với bảo tồn thiên nhiên, phát huy các giá trị văn hóa lịch sử và bản sắc văn hóa dân tộc; phát triển kinh tế nông thôn theo hướng tích hợp đa giá trị, kết hợp chặt chẽ giữa sản xuất nông nghiệp với du lịch sinh thái, du lịch trải nghiệm cộng đồng.
Khoa học, công nghệ thúc đẩy phát triển nông nghiệp hàng hóa
Những năm qua, ngành khoa học và công nghệ đã có nhiều đóng góp quan trọng vào quá trình tái cơ cấu ngành nông nghiệp của tỉnh, nhiều kết quả nghiên cứu đã được chuyển giao, ứng dụng hiệu quả vào thực tiễn sản xuất, góp phần nâng cao năng suất, chất lượng nông sản, xây dựng thương hiệu hàng hóa địa phương và gia tăng hiệu quả sản xuất. Hiện nay, Sở Khoa học và Công nghệ đang quản lý 143 nhiệm vụ khoa học và công nghệ, trong đó: 74 nhiệm vụ đang triển khai thực hiện; 49 nhiệm vụ đang thực hiện quy trình tuyển chọn thực hiện từ năm 2026; 20 nhiệm vụ đang hoàn tất quyết toán;…
Đối với lĩnh vực nông nghiệp, các nhiệm vụ khoa học và công nghệ tập trung vào phát triển vùng chè chất lượng cao, chè hữu cơ; ứng dụng công nghệ sinh học trong sản xuất giống cây trồng, vật nuôi; ứng dụng công nghệ số trong quản lý vùng nguyên liệu, truy xuất nguồn gốc và tiêu thụ sản phẩm. Những kết quả này đã góp phần nâng cao năng suất, chất lượng nông sản, bảo đảm tính minh bạch trong chuỗi sản xuất và tạo tiền đề phát triển nông nghiệp thông minh.

Mô hình sản xuất lúa theo hướng nông nghiệp tuần hoàn thích ứng với biến đổi khí hậu gắn với chuỗi giá trị trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên.
Cùng với hoạt động nghiên cứu, công tác hỗ trợ doanh nghiệp, hợp tác xã về đổi mới công nghệ, chuyển đổi số, tiêu chuẩn, đo lường, chất lượng và sở hữu trí tuệ cũng được triển khai đồng bộ. Chỉ trong 6 tháng đầu năm 2026, toàn tỉnh có 286 đơn đăng ký sở hữu công nghiệp, 247 văn bằng bảo hộ được cấp; Sở Khoa học và Công nghệ đã cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng chỉ dẫn địa lý "Tân Cương" cho 03 hợp tác xã. Đây là cơ sở quan trọng để nâng cao giá trị thương hiệu nông sản, đặc biệt là sản phẩm chè, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi cho việc mở rộng thị trường trong nước và xuất khẩu. Bên cạnh đó, Sở tiếp tục định hướng các nhiệm vụ nghiên cứu theo nhu cầu thực tiễn, tập trung vào nông nghiệp thông minh, sản xuất chè bền vững, chuyển đổi số ngành chè, ứng dụng công nghệ cao, góp phần thúc đẩy tăng trưởng xanh, kinh tế tuần hoàn và sử dụng hiệu quả tài nguyên.
Chuyển đổi số mở rộng không gian phát triển nông nghiệp
Không chỉ dừng ở nghiên cứu và chuyển giao công nghệ, chuyển đổi số đang tạo ra những thay đổi căn bản trong phương thức sản xuất và tiêu thụ nông sản. Việc ứng dụng các nền tảng số, hệ thống truy xuất nguồn gốc điện tử, thương mại điện tử, dữ liệu vùng nguyên liệu giúp người sản xuất quản lý tốt hơn quy trình sản xuất, nâng cao chất lượng sản phẩm, đồng thời kết nối trực tiếp với thị trường và người tiêu dùng.
Nghị quyết số 12-NQ/TU cũng đặt mục tiêu đẩy mạnh áp dụng đồng bộ các tiêu chuẩn VietGAP, GlobalGAP, sản xuất hữu cơ, an toàn thực phẩm, truy xuất nguồn gốc điện tử và chuyển đổi số trong toàn bộ chuỗi giá trị từ sản xuất, thu hoạch, bảo quản, chế biến đến tiêu thụ sản phẩm. Đây được xem là giải pháp quan trọng để gia tăng giá trị nông sản, nâng cao năng lực cạnh tranh và đáp ứng các yêu cầu ngày càng khắt khe của thị trường trong nước cũng như quốc tế.

Tỉnh Thái Nguyên ký kết hợp tác giữa các cơ quan, doanh nghiệp nhằm tăng cường liên kết và hỗ trợ tiêu thụ sản phẩm.
Hướng tới nền nông nghiệp xanh, thông minh và bền vững
Theo mục tiêu đến năm 2030, tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản của tỉnh đạt bình quân 4%/năm; giá trị sản xuất toàn ngành đạt trên 53.680 tỷ đồng; thu nhập bình quân khu vực nông thôn đạt khoảng 94 triệu đồng/người/năm. Cây chè tiếp tục được xác định là sản phẩm chủ lực với diện tích trên 24.500 ha, sản lượng trên 300.000 tấn; 100% sản phẩm trà và sản phẩm từ chè được đưa lên các nền tảng thương mại điện tử, góp phần nâng cao vị thế thương hiệu chè Thái Nguyên. Để hiện thực hóa mục tiêu đó, tỉnh sẽ tiếp tục phát triển các vùng sản xuất tập trung, đẩy mạnh liên kết theo chuỗi giá trị, thu hút doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, phát triển kinh tế tập thể, đồng thời tăng cường nghiên cứu, ứng dụng và chuyển giao các thành tựu khoa học, công nghệ mới. Những kết quả đạt được trong thời gian qua không chỉ góp phần nâng cao năng suất, chất lượng và giá trị nông sản mà còn tạo nền tảng để xây dựng nền nông nghiệp hiện đại, xanh, thông minh, hội nhập và phát triển bền vững trong giai đoạn mới.
Khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đang mở ra những cơ hội mới để Thái Nguyên khai thác hiệu quả tiềm năng, lợi thế, xây dựng nền nông nghiệp hàng hóa hiện đại, xanh và bền vững. Trên cơ sở định hướng của Nghị quyết số 12-NQ/TU cùng những kết quả đạt được trong nghiên cứu, ứng dụng và chuyển giao công nghệ thời gian qua, ngành khoa học và công nghệ sẽ tiếp tục đồng hành cùng ngành nông nghiệp trong phát triển các vùng sản xuất tập trung, nâng cao chất lượng và giá trị nông sản, xây dựng thương hiệu, mở rộng thị trường tiêu thụ và thúc đẩy chuyển đổi số trong toàn bộ chuỗi giá trị. Đây sẽ là nền tảng quan trọng để Thái Nguyên nâng cao sức cạnh tranh của nông sản, phát triển nông nghiệp thông minh, góp phần thực hiện thắng lợi mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội và xây dựng nông thôn mới bền vững trong giai đoạn 2026 - 2030.